Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Văn bản

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Thị trường Mỹ

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ
Locations of visitors to this page
 

Nguyên bản tiếng Pháp

NHÂN DANH NHÂN DÂN PHÁP

 

Ṭa phúc thẩm Grenoble, Pḥng biện pháp khẩn cấp

Bản án ngày 8 tháng 3 năm 2000

 

Bên kháng cáo

Ông X

Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954

quốc tịch Pháp

 

Bà Y

Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966

Quốc tịch Pháp

 

Phiên ṭa gồm

 

Khi thảo luận và nghị án:

Bà …. Chủ tịch hội đồng

Bà … Thẩm phán

Bà … Thẩm phán

 

Tham gia phiên ṭa c̣n có

Bà … Thư kư

Bà … Đại diện Viện Công tố

 

Phần thảo luận

 

Trong buổi thẩm vấn không công khai tại Pḥng thẩm phán ngày 2 tháng 2 năm 2000,

Sau khi chuyển hồ sơ cho đại diện Viện kiểm sát,

Sau khi nghe tŕnh bày của luật sư và đại tụng viên, kết luận viết và tŕnh bày của đại diện Viện kiểm sát,

Hồ sơ vụ án đă chuyển sang phần nghị án trước khi tuyên án công khai tại phiên ṭa hôm nay.

 

Ông X và vợ là bà Y đă gửi kháng cáo đúng thủ tục bằng thư bảo đảm ngày 17 tháng 6 năm 1999 bản án ngày 19 tháng 5 năm 1999 của Ṭa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JALLIEU.

 

Tóm tắt sự việc, tŕnh tự giải quyết và lập luận của các bên

 

Ngày 19 tháng 7 năm 1996, Ông bà X-Y được Hội đồng dân cử vùng Isere cấp giấy phép nhận con nuôi.

 

Ngày 4 tháng 8 năm 1998, hai người đến Việt nam để t́m con nuôi.

 

Ngày 7 tháng 8 năm 1998, cô Z, chưa lập gia đ́nh, mẹ đẻ của cháu A, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1998 (không xác định được người cha), đă kư giấy từ bỏ con tại Ủy ban nhân dân xă Quang Khuê, huyện Ba Bể, tỉnh T. (Thái nguyên).

 

Ngày 22 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đă kư quyết định cho phép ông bà X-Y nhận cháu bé làm con nuôi.

 

Cùng ngày, biên bản giao cháu A cho ông bà X-Y làm con nuôi trọn vẹndứt khoát được lập với sự có mặt của đại diện Sở tư pháp. 

 

Ngày 21 tháng 8 năm 1999, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đă cấp cho ông bà X-Y giấy chứng nhận cho phép cháu bé định cư tại Pháp.

 

Trở về Pháp, ngày 18 tháng 9 năm 1998, ông bà X-Y nộp đơn lên Chưởng lư hạt BOURGOIN – JANLIEU xin công nhận cháu A là con nuôi trọn vẹn.

 

Ngày 19 tháng 5 năm 1999, Ṭa sơ thẩm hạt BOURGOIN – JANLIEU ra quyết định từ chối yêu cầu chính của ông bà X-Y là xin được công nhận cháu A con nuôi trọn vẹn, mà chỉ chấp nhận yêu cầu thứ yếu công nhận cháu A là con nuôi ơn giản

 

Ông bà X-Y kháng cáo quyết định sơ thẩm.

 

Ông bà X-Y lập lụân rằng « Giấy từ bỏ » trong hồ sơ của Ṭa là do mẹ đẻ cháu bé kư và đă được Ủy ban nhân dân xác nhận thể hiện rơ cô Z tự nguyện đồng ư cho con nuôi  và nhận thức đầy đủ hệ quả pháp lư của việc nhận con nuôi (trọn vẹn) qui định trong luật của Pháp  ; rằng theo án lệ đă ổn định của Pháp, hai vợ chồng Pháp có thể xin con nuôi trọn vẹn một đứa trẻ mà luật nhân thân của trẻ không qui định hoặc thậm chí cấm việc nhận con nuôi (trọn vẹn) nếu như, không phụ thuộc vào qui định của luật pháp, người đại diện của trẻ đă đồng ư khi nhận thức được đầy đủ hệ quả của việc nuôi con nuôi (trọn vẹn) ; rằng sự đồng ư của mẹ đẻ đứa trẻ đă đáp ứng hết các điều kiện nói trên và rằng việc ông bà nhờ tới trung gian của một người thứ 3 để liên hệ với cháu bé không ảnh hưởng ǵ đến tính chất của việc đồng ư này.

 

Ông bà X-Y đề nghị ṭa phúc thẩm công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn với tấp cả hệ quả pháp lư kèm theo.

 

Đại dịên Viện kiểm sát, căn cứ vào những tài liệu ông bà X-Y cung cấp, không có ư kiến phản đối yêu cầu của họ.

 

Xét rằng

 

Theo qui tắc đă ổn định trong luật của Pháp th́ trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, luật (nhân thân) của người nuôi con nuôi điều chỉnh điều kiện và hệ quả của việc nuôi con nuôi, luật (nhân thân) của con nuôi xác định điều kiện (hiệu lực) của tḥa thụân cho con nuôi và vấn đề đại diện của trẻ.

 

Nếu luật Việt nam chỉ qui định trường hợp nhận con nuôi đơn giản, th́ theo lụât của Pháp, việc nhận con nuôi trọn vẹn tại Pháp một đứa trẻ mà luật nhận thân gốc không qui định hoặc thậm chí cấm chế định này, vẫn có thể được chấp nhận với điều kiện người đại diện hợp pháp của trẻ đă đồng ư sau khi nhận thức được đầy đủ hệ quả pháp lư qui định trong luật của Pháp về việc nhận con nuôi trọn vẹn, cụ thể là  tính chất đầy đủ và vĩnh viễn của việc nuôi con nuôi và việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lư giữa đứa trẻ và gia đ́nh gốc.

 

Trong vụ kiện, tài liệu cho thấy thủ tục cho phép nuôi con nuôi, với tính chất thủ tục hành chính tại Việt nam, là phù hợp với luật pháp nước này : Giấy từ bỏ kư ngày 7 tháng 8 năm 1998 trước mặt Ủy ban nhân dân xă ; chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh T. bằng quyết định ngày 22 tháng 8 năm 1998 theo đề xuất của Sở tư pháp, đă cho phép ông bà X nhận đứa trẻ làm con nuôi.

 

Thi hành quyết định này, Biên bản giao con nuôi đă được lập cùng ngày xác nhận việc cháu A đă được giao cho ông bà X-Y để làm con nuôi « trọn vẹn và vĩnh viễn », với sự có mặt của Giám đốc sở tư pháp và mẹ đẻ cháu bé,.

 

Sau hết, Đại sứ quán Pháp tại Hà nội đă cấp giấy chứng nhận cho phép đứa trẻ định cư tại Pháp.

Việc cô Z, mẹ đẻ của đứa trẻ là người duy nhất được quyền cho phép nuôi con nuôi do người cha vắng mặt là không thể bác bỏ.

 

Giấy từ bỏ kư ngày 7 tháng 8 năm 1998 do cô Z viết có nội dung như sau :

« Tôi đồng ư để con gái tôi có tên như trên làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn của ông X và bà Y, quốc tịch Pháp, cư trú tại V. Tôi tự nguyên giao con tôi cho người nước ngoài nhận làm con nuôi trọn vẹn và vĩnh viễn và cam kết không bao giờ đ̣i lại ».

 

Cam kết trên, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xă Quang Khê nơi cư trú của cô Z xác thực, đă thể hiện đồng ư cho con nuôi trọn vẹn là tự nguyện và cô Z nhận thức được việc chấm dứt vĩnh viễn mọi quan hện (pháp lỹ) với đứa trẻ.

 

Việc đồng ư được tái khẳng định bởi v́ mẹ đẻ của cháu bé có mặt ngày 22 tháng 8 năm 1998 trong lễ bàn giao con nuôi và kư vào biên bản mà không bảo lưu.

 

V́ vậy, việc đồng ư của cô Z là tự nguyên và nhận thức được hậu quả hành vi của ḿnh.

 

Việc ông bà X-Y đă nhờ tới trung gian của một người thứ 3 chỉ để liên hệ với mẹ đẻ của cháu bé không ảnh hưởng ǵ đến nội dung của việc đồng ư này.

 

Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu nhận con nuôi trọn vẹn của nguyên đơn v́ chế định này, ngược lại với chế định nhận con nuôi đơn giản, duy nhất có thể đảm bảo sự ḥa nhập hoàn toàn của đứa trẻ vào gia đ́nh cha mẹ nuôi cững như trong xă hội Pháp và phù hợp với lợi ích của con nuôi.

 

V́ lư do trên,

 

Ṭa

 

quyết định công khai, bằng bản án tranh tụng cấp cho các bên theo qui định của pháp luật,

 

Về h́nh thức: chấp nhận đơn kháng cáo của ông bà X-Y

 

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của ông bà X-Y, sửa án sơ thẩm ngày 19 tháng năm 1999 và quyết định lại như sau

 

Tuyên công nhận việc nuôi con nuôi trọn vẹn cháu A, giới tính nữ, sinh gnày 10 tháng 5 năm 1998, tại bệnh viện đa khoa Bắc cạn, tỉnh T, Việt nam, của ông X, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1954 và bà Y vợ ông X, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1966, cả hai cư trú tại tỉnh U.

 

Tuyên cháp bé từ nay sẽ mang họ cha X và tên …

 

Lệnh chuyển bản án để ghi chú vào Sổ Đăng kư hộ tịch (Trung tâm về hộ tịch tại Nantes) và việc ghi chú này sẽ thay cho giấy khai sinh của con nuôi

 

Án phí sẽ do Kho bạc nhà nước thanh toán

 

Bản án đă được Bà …tuyên công khai và bà … đă kư.

 

Bản sao có giá trị thi hành được cấp cho

S.C.P. CALAS
S.C.P. GRIMAUD
Me RAMILLON
S.C.P. PERRET & POUGNAND
S.E.LA.R.L. DAUPHIN & NEYRET 

 

 
   

Tell your friend about this page
1998-2008 ©
Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email