Chương
II: quyền sở hữu trí tuệ
Ðiều 1: Mục tiêu,
nguyên tắc và phạm vi của các nghĩa vụ
1. Mỗi Bên dành cho công
dân của Bên kia sự bảo hộ và thực thi đầy
đủ và có hiệu quả đối với quyền
sở hữu trí tuệ trong lãnh thổ của mình.
2. Các Bên thừa nhận các mục tiêu về chính sách
xã hội cơ bản của các hệ thống quốc
gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, kể cả
mục tiêu phát triển và mục tiêu công nghệ và bảo
đảm rằng các biện pháp bảo hộ và thực
thi quyền sở hữu trí tuệ không cản trở hoạt
động thương mại chính đáng.
3. Ðể bảo hộ và thực thi quyền sở hữu
trí tuệ một cách đầy đủ và có hiệu
quả, mỗi Bên tối thiểu phải thực hiện
Chương này và các quy định có nội dung kinh tế
của:
A. Công ước Geneva về bảo hộ người sản
xuất bản ghi âm chống sự sao chép trái phép, năm
1971 (Công ước Geneva);
B. Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn
học và nghệ thuật, năm 1971 (Công ước
Berne);
C. Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công
nghiệp, năm 1967 (Công ước Paris);
D. Công ước Quốc tế về bảo hộ giống
thực vật mới, năm 1978 (Công ước UPOV
(1978)), hoặc Công ước quốc tế về bảo
hộ giống thực vật mới, năm 1991 (Công ước
UPOV (1991)); và
E. Công ước về phân phối tín hiệu mang chương
trình truyền qua vệ tinh (1974).
Nếu một Bên chưa tham gia bất kỳ Công ước
nào nêu trên vào ngày hoặc trước ngày Hiệp định
này có hiệu lực thì Bên đó phải nhanh chóng cố
gắng tham gia Công ước đó.
4. Một Bên có thể thực hiện việc bảo hộ
và thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật
quốc gia của mình ở mức độ rộng
hơn so với yêu cầu tại Chương này, với
điều kiện là việc bảo hộ và thực thi
đó không mâu thuẫn với Chương này.
Ðiều 2: Ðịnh nghĩa
Trong Chương này:
1. "thông tin bí mật" bao gồm bí mật thương
mại, thông tin đặc quyền và thông tin không bị
tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng
phải bị tiết lộ công khai không hạn chế
theo pháp luật quốc gia của Bên liên quan.
2. "tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã
được mã hoá" là tín hiệu vệ tinh mang chương
trình được truyền đi dưới dạng mà
trong đó các đặc tính âm thanh hoặc các đặc
tính hình ảnh, hoặc cả hai đặc tính đó
đã được biến đổi hoặc thay đổi
nhằm mục đích ngăn cản thu trái phép chương
trình truyền trong tín hiệu đó được thực
hiện bởi những người không có thiết bị
hợp pháp được thiết kế nhằm loại
bỏ tác dụng của việc biến đổi hoặc
thay đổi đó.
3. "quyền sở hữu trí tuệ" bao gồm quyền
tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế,
thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tín
hiệu vệ tinh mang chương trình đã được
mã hoá, thông tin bí mật (bí mật thương mại),
kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống
thực vật.
4. "người phân phối hợp pháp tín hiệu vệ
tinh đã được mã hoá" trong lãnh thổ một
Bên là người đầu tiên truyền đi tín hiệu
đó.
5. "công dân" của một Bên, tương ứng với
từng loại quyền sở hữu trí tuệ,
được hiểu là những thể nhân hoặc pháp
nhân có thể đáp ứng các tiêu chuẩn để
được hưởng sự bảo hộ quy định
trong Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước
Geneva, Công ước về phân phối tín hiệu mang chương
trình truyền qua vệ tinh, Công ước Quốc tế
về bảo hộ người biểu diễn, người
ghi âm và tổ chức phát sóng, Công ước UPOV (1978), Công
ước UPOV (1991), hoặc Hiệp định về quyền
sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp
được lập tại Washington năm 1989, như thể
mỗi Bên đều là thành viên của các Công ước
đó, và đối với các quyền sở hữu trí
tuệ không phải là đối tượng của các
Công ước nói trên thì khái niệm "công dân" của
một Bên ít nhất được hiểu là bao gồm
bất kỳ người nào là công dân của Bên đó
hoặc người thường trú tại Bên đó.
6. "công chúng" - đối với các quyền truyền
đạt và biểu diễn tác phẩm quy định tại
Ðiều 11, 11bis(1) và 14(1)(ii) của Công ước Berne,
đối với tác phẩm kịch, nhạc kịch, âm
nhạc và điện ảnh - bao gồm ít nhất bất
kỳ tập hợp những cá nhân nào được dự
tính là đối tượng của sự truyền đạt
hay biểu diễn tác phẩm đó và có khả năng cảm
nhận được chúng, bất kể là những cá
nhân này có thể thực hiện được điều
đó tại cùng một thời điểm hay tại nhiều
thời điểm khác nhau, tại cùng một địa
điểm hay tại nhiều địa điểm khác
nhau, với điều kiện là tập hợp những
cá nhân đó phải ở quy mô lớn hơn một gia
đình cộng thêm những người có mối quan hệ
thân thích trực tiếp của gia đình đó, hoặc
không phải là một nhóm với số lượng
người hạn chế có mối quan hệ gần gũi
tương tự, được lập ra không phải với
mục đích chính là thu nhận chương trình biểu
diễn và sự truyền đạt tác phẩm đó.
7. "người có quyền" bao gồm bản thân người
có quyền, bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào
khác được người có quyền cấp li-xăng
độc quyền đối với quyền đó, hoặc
là những người được phép khác, kể cả
các liên đoàn, hiệp hội có tư cách pháp lý để
thụ hưởng các quyền đó theo quy định của
pháp luật quốc gia.
Ðiều 3: Ðối xử
Quốc gia
1. Mỗi Bên dành cho công
dân của Bên kia sự đối xử không kém thuận
lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho
công dân của mình trong việc xác lập, bảo hộ,
hưởng và thực thi tất cả các quyền sở
hữu trí tuệ và mọi lợi ích có được từ
các quyền đó.
2. Một Bên không đòi hỏi những người có
quyền phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu về
thủ tục hình thức hoặc điều kiện nào
(kể cả việc định hình, công bố hoặc
khai thác trong lãnh thổ của một Bên) như là một
điều kiện để được hưởng sự
đối xử quốc gia quy định tại Ðiều
này nhằm xác lập, hưởng, thực thi và thực
hiện các quyền và lợi ích liên quan đến quyền
tác giả và quyền liên quan.
3. Một Bên có thể không thi hành quy định tại
khoản 1 đối với các thủ tục tư pháp
và hành chính liên quan đến việc bảo hộ và thực
thi các quyền sở hữu trí tuệ, kể cả bất
kỳ thủ tục nào yêu cầu công dân của Bên kia
phải chỉ định địa chỉ tiếp nhận
giấy tờ tống đạt tố tụng tại lãnh
thổ của Bên đó hoặc phải chỉ định
một đại diện tại lãnh thổ của Bên
đó nếu việc không thi hành này là phù hợp với
các Công ước liên quan được liệt kê ở
khoản 3 Ðiều 1 trên đây, với điều kiện
là việc không thi hành quy định nói trên:
A. là cần thiết để bảo đảm việc
thi hành các biện pháp không trái với quy định của
Hiệp định này; và
B. không được áp dụng theo phương thức có
thể gây hạn chế đối với thương mại.
4. Không Bên nào phải có bất kỳ nghĩa vụ gì
theo Ðiều này đối với các thủ tục quy
định trong các thoả thuận đa phương
được ký kết dưới sự bảo trợ
của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
liên quan đến việc xác lập hoặc duy trì quyền
sở hữu trí tuệ.
Ðiều 4: Quyền tác
giả và Quyền liên quan
1. Mỗi Bên bảo hộ
mọi tác phẩm có sự thể hiện nguyên gốc
theo nghĩa quy định tại Công ước Berne. Cụ
thể là:
A. mọi loại chương trình máy tính đều
được coi là các tác phẩm viết theo nghĩa quy
định tại Công ước Berne và mỗi Bên bảo
hộ các đối tượng này như tác phẩm viết;
và
B. mọi sưu tập dữ liệu hoặc sưu tập
tư liệu khác, bất kể dưới dạng có thể
đọc được bằng máy hoặc dưới dạng
khác, mà việc lựa chọn và sắp xếp nội
dung là sự sáng tạo trí tuệ, đều được
bảo hộ như tác phẩm.
Sự bảo hộ mà một Bên quy định theo mục
B không áp dụng đối với chính dữ liệu hoặc
tư liệu, hoặc làm phương hại đến
quyền tác giả đang tồn tại đối với
dữ liệu hoặc tư liệu đó.
2. Mỗi Bên dành cho tác giả và những người kế
thừa quyền lợi của họ những quyền
được liệt kê tại Công ước Berne đối
với các tác phẩm thuộc khoản 1, và dành cho họ
quyền cho phép hoặc cấm:
A. nhập khẩu vào lãnh thổ của Bên đó bản
sao của tác phẩm;
B. phân phối công khai lần đầu bản gốc và
mỗi bản sao tác phẩm dưới hình thức bán,
cho thuê hoặc các hình thức khác;
C. truyền đạt tác phẩm tới công chúng; và
D. cho thuê bản gốc hoặc bản sao chương trình
máy tính nhằm đạt lợi ích thương mại.
Không áp dụng mục D trong trường hợp bản
sao chương trình máy tính không phải là đối
tượng chủ yếu để cho thuê. Mỗi Bên quy
định rằng việc đưa bản gốc hoặc
bản sao một chương trình máy tính ra thị trường
với sự đồng ý của người có quyền
không làm chấm dứt quyền cho thuê.
3. Mỗi Bên quy định rằng đối với quyền
tác giả và quyền liên quan:
A. bất kỳ người nào có được hoặc
nắm giữ bất kỳ quyền kinh tế nào đều
có thể chuyển giao một cách tự do và riêng rẽ
quyền đó bằng hợp đồng; và
B. bất kỳ người nào có được hoặc
nắm giữ quyền kinh tế theo hợp đồng, kể
cả những hợp đồng lao động là cơ sở
để sáng tạo tác phẩm và bản ghi âm, đều
được tự đứng tên thực hiện các
quyền đó và được hưởng đầy
đủ các lợi ích thu được từ các quyền
đó.
4. Mỗi Bên quy định rằng, trường hợp thời
hạn bảo hộ của một tác phẩm được
tính không căn cứ theo đời người, thì thời
hạn đó không ít hơn 75 năm kể từ khi kết
thúc năm lịch mà tác phẩm được công bố
hợp pháp lần đầu tiên, hoặc nếu tác phẩm
không được công bố hợp pháp trong vòng 25 năm
kể từ khi tác phẩm được tạo ra, thì thời
hạn đó không ít hơn 100 năm kể từ khi kết
thúc năm lịch mà tác phẩm được tạo ra.
5. Không Bên nào được cấp phép dịch hoặc
sao chép theo quy định tại Phụ lục của Công
ước Berne khi nhu cầu hợp pháp về bản dịch
hoặc bản sao tác phẩm trong lãnh thổ của Bên
đó có thể được người có quyền
đáp ứng một cách tự nguyện nếu không gặp
những trở ngại do Bên đó tạo ra.
6. Mỗi Bên dành cho người có quyền đối với
bản ghi âm quyền cho phép hoặc cấm:
A. trực tiếp hoặc gián tiếp sao chép toàn bộ hoặc
một phần bản ghi âm;
B. nhập khẩu vào lãnh thổ của Bên đó bản
sao của bản ghi âm;
C. phân phối công khai lần đầu bản gốc hoặc
bản sao của bản ghi âm dưới hình thức bán,
cho thuê hoặc các hình thức khác; và
D. cho thuê, mượn bản gốc hoặc bản sao của
bản ghi âm nhằm đạt lợi ích thương mại.
Mỗi Bên quy định rằng việc đưa bản
gốc hoặc bản sao một bản ghi âm ra thị trường
với sự đồng ý của người có quyền
không làm chấm dứt quyền cho thuê của người
có quyền.
7. Mỗi Bên dành cho những người biểu diễn
quyền cho phép hoặc cấm:
A. định hình các buổi biểu diễn nhạc sống
của họ trong bản ghi âm;
B. sao chép bản định hình trái phép của các buổi
biểu diễn nhạc sống của họ và
C. phát hoặc truyền đạt theo cách khác tới công
chúng âm thanh của buổi biểu diễn nhạc sống;
và
D. phân phối, bán, cho thuê, định đoạt hoặc
chuyển giao các bản định hình trái phép các buổi
biểu diễn trực tiếp của họ, bất kể
việc định hình đó được thực hiện
ở đâu.
8. Mỗi Bên, thông qua việc thực hiện Hiệp định
này, áp dụng các quy định của Ðiều 18 Công
ước Berne đối với các tác phẩm và, với
những sửa đổi cần thiết, đối với
các bản ghi âm đang tồn tại.
9. Mỗi Bên giới hạn các hạn chế hoặc ngoại
lệ đối với các quyền được quy
định tại Ðiều này trong một số trường
hợp đặc biệt nhất định mà không mâu
thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm
và không gây phương hại một cách bất hợp
lý tới các lợi ích chính đáng của người có
quyền.
Ðiều 5: Bảo hộ
tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được
mã hoá
1. Ðối với các vi phạm
nghiêm trọng liên quan đến việc bảo hộ tín
hiệu vệ tinh mang chương trình đã được
mã hoá, mỗi Bên quy định các biện pháp xử lý
thích hợp, bao gồm các biện pháp, chế tài dân sự
và hình sự.
2. Vi phạm nghiêm trọng liên quan đến việc bảo
hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã
được mã hoá bao gồm các hành vi sau:
A. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, hoặc
phân phối (bao gồm nhập khẩu, xuất khẩu,
bán hoặc cho thuê) một thiết bị hoặc hệ thống,
do bất kỳ người nào thực hiện khi biết
hoặc có cơ sở để biết rằng thiết
bị hoặc hệ thống đó chủ yếu để
giúp cho việc giải mã trái phép một tín hiệu vệ
tinh mang chương trình đã được mã hoá và
B. Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối một
tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được
mã hoá khi tín hiệu đã được giải mã mà
không được phép của người phân phối hợp
pháp tín hiệu đó (bất kể người đó
ở đâu) hoặc của bất kỳ người hoặc
những người nào được người đầu
tiên phát tín hiệu chỉ định là người
được phép phân phối tín hiệu tại Bên
đó.
3. Mỗi Bên quy định rằng những biện pháp chế
tài dân sự được quy định phù hợp với
khoản 1 Ðiều này được dành cho bất cứ
người nào có lợi ích đối với tín hiệu
vệ tinh mang chương trình đã được mã
hoá hoặc đối với nội dung của tín hiệu
đó.